Hiển thị các bài đăng có nhãn Báo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Báo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 22 tháng 5, 2013

Chân dung những “Nick Vujicic” Việt Nam



(Dân trí) - Khuyết tật cơ thể nhưng “tàn mà không phế”. Họ có một nghị lực sống phi thường, khát vọng vươn lên mãnh liệt. Họ đã sống trọn vẹn cho mình và cho người khác. Họ là những “Nick Vujicic” của Việt Nam.
Những nghị lực phi thường này chính là những hạt giống tâm hồn Việt sẽ được giao lưu với chàng trai không chân, không tay Nick Vujicic trong lần đến Việt Nam sắp diễn ra. Không những thế, những con người vượt lên số phận này sẽ được tôn vinh và nhận cúp “Ý chí - Nghị lực Việt Nam” tại buổi giao lưu.
Thạc sĩ Võ Thị Hoàng Yến tốt nghiệp cả 2 trường Đại học Kinh tế và Đại học Sư phạm, nhưng cuộc sống tươi đẹp ngày ấy không mỉm cười với chị vì người ta luôn từ chối người khuyết tật. Không chịu gục ngã, chị bước tiếp trên con đường khó khăn. Nhận học bổng của Ford Foundation, chị sang Mỹ theo học chuyên ngành phát triển con người của Đại học Kansas. Từ chối ở lại học tiếp tiến sĩ và vị trí cố vấn cho một chương trình phát triển 12 nước Châu Mỹ La tinh, chị về nước để thực hiện giấc mơ của mình: Thay đổi cuộc sống của người khuyết tật.


Chị thành lập Trung tâm phát triển - DRD với hoạt động rộng khắp miền Nam Việt Nam với các chương trình học bổng, đào tạo kỹ năng, hỗ trợ việc làm… Chị còn là giảng viên phân tích hành vi của trường Đại học Mở TPHCM, là cố vấn một số nghiên cứu và dự án phát triển cộng đồng và là diễn giả của các diễn đàn trong và ngoài nước.
Năm 2009, chị nhận giải thưởng ITOGA Châu Á Thái Bình Dương cho những cống hiến làm thay đổi cuộc sống người khuyết tật. Năm 2010, nhận giải thưởng của Chính phủ Mỹ “President’s Call to Service Award”.
Hoạt động của chị có ảnh hưởng rất lớn đến việc thay đổi nhận thức cộng đồng và người khuyết tật về các vấn đề khuyết tật đang đối mặt, đóng góp cho việc xây dựng và sửa đổi luật, chính sách liên quan đến người khuyết tật.
Thầy Nguyễn Ngọc Ký: Đối với nhiều người Việt Nam, Nguyễn Ngọc Ký là một huyền thoại sống. 4 tuổi bị liệt hoàn toàn 2 tay và mọi việc đều được thực hiện bằng đôi chân kỳ diệu nhưng Nguyễn Ngọc Ký luôn là học trò xuất sắc từng 2 lần được Bác Hồ khen thưởng.


Trở thành thầy giáo đáng kính, ông không ngừng cống hiến cho sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ. Ông chính là người thầy viết bằng chân đầu tiên ở Việt Nam do Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam công nhận và vinh dự nhận danh hiệu Nhà giáo ưu tú. Ở tuổi về hưu, ông vẫn đóng góp cho xã hội với vai trò là người tư vấn tâm lý và giáo dục qua tổng đài 1080.
 “Không đỉnh cao nào không kề cận bên ta khi ta biết thắng mình mỗi phút giây qua. Và, không có gì ngày mai không đạt được nếu hôm nay ta biết học hết mình”, thầy Ký tâm sự.
Dịch giả Nguyễn Bích Lan sinh ra và lớn lên tại một làng nhỏ thuộc tỉnh Thái Bình. Bích Lan từng là học sinh chuyên văn của trường năng khiếu, 14 tuổi phải nghỉ học giữa chừng vì chứng loạn dưỡng cơ. Dù vậy, không gì có thể quật ngã ý chí của cô gái nhỏ. Chỉ sau 4 năm miệt mài tự học tiếng Anh và học tất cả những gì cô có thể, cô bắt đầu dạy cho trẻ trong vùng. Đến nay, đã có hơn 200 học trò, trong đó có 8 người thành đạt từ sự tận tâm của cô.
 

Ở tuổi ngoài 30, cô là dịch giả của 18 cuốn sách, trong đó có nhiều cuốn nổi tiếng như: Từ sông Nile đến sông Jordan, Người đàn ông hào hoa, Dance with your heart, Triệu phú khu ổ chuột… và là tác giả của nhiều thơ, truyện ngắn. Bích Lan là đại diện cho người không bao giờ từ bỏ ước mơ.
Với Bích Lan: “Trong nhiều hoàn cảnh, bản thân sự cố gắng hết sức còn quan trọng hơn kết quả của sự cố gắng. Chỉ cần cố gắng hết sức, vậy là đủ”.

Chị Nguyễn Hướng Dương: Tai nạn năm 25 tổi dường như đã đóng lại cánh cửa đời tươi đẹp của cô gái Nguyễn Hướng Dương. Nhưng cái duyên gặp gỡ những câu chuyện đời sống trong bóng tối lại vực chị dậy để bước tiếp con đường phía trước. Được các mạnh thường quân tiếp sức một phòng thu, chị như được chắp thêm cánh và lao vào việc không mệt mỏi. Kết quả là hơn 900 đầu sách nói đã đến với cộng đồng người khiếm thị.


Ngoài vai trò Giám đốc, chị còn thể hiện tại MC và tham gia nhiều hoạt động xã hội. Chị vinh dự nhận Huân chương Lao động hạng Nhì do Chủ tịch Nước trao tặng và Huy chương “Vì hạnh phúc người mù” do Hội người mù Việt Nam trao tặng.
Chị từng tâm sự: “Những tai họa xảy đến trong đời đều có giá trị của nó, giúp ta nhận ra nhiều sự việc, nhìn thấy cuộc đời rõ ràng hơn, tự tin hơn vào sức mạnh tự thân để chuyển họa thành phúc”.



Nghệ sĩ Nguyễn Thế Vinh - Như cây xương rồng trên cát
7 tuổi anh đã mất cha, 14 tuổi mẹ cũng qua đời, biến cố năm lên 8 khiến anh chỉ còn mỗi cánh tay trái. Nhưng chính cánh tay này, Nguyễn Thế Vinh đã làm được nhiều thứ đáng trân trọng. Cũng với cánh tay và sự nỗ lực không ngừng đã từng ngày tôi dũa anh thành con người tài hoa, một nghệ sĩ đa tài và người thầy với trái tim nóng ấm. Tốt nghiệp đại học kinh tế nhưng anh bỏ qua niềm vui riêng của bản thân để xây dựng một ngôi trường giúp các em thanh thiếu niên thiệt thòi được bước vào trường đại học, thay đổi cuộc đời.


Người thầy ấy sống giản dị và chân thành đang chắp cánh cho tương lai hơn 70 cô cậu học trò nhỏ, Trung tâm bảo trợ Hướng Dương của anh giờ là mái nhà chung của nhiều thế hệ học trò mồ côi hay khuyết tật giúp các em. 100% các em từ ngôi trường này đã đỗ đại học, cao đẳng hàng năm.
Trong cuốn sách ảnh “Họ đã sống như thế”, nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Á đã từng viết về anh: “Gần 40 năm của cuộc đời, anh như cây xương rồng kiên cường vươn lên từ miền cát bỏng Bình Thuận quê anh”. (Trích "Họ đã sống như thế" - Nguyễn Á).

Chị Dương Phương Hạnh: Giữ vai trò là Giám đốc Trung tâm nghiên cứu và giáo dục người khiếm thính (CED), Dương Phương Hạnh có thể nói là một trong những người đầu tiên mang đến cho người khiếm thính một cuộc sống mới để hòa nhập cộng đồng. Hiểu rõ những giới hạn do khiếm khuyết, chị đã không ngừng nỗ lực, không chỉ để khẳng định mình mà còn nâng bước hàng ngàn người đồng cảnh cùng vươn lên. Hiện chị còn giữ vai trò Tổng thư ký Liên đoàn khiếm thính Quốc tế. Chị vinh dự nhận Giải thưởng Dải băng xanh 2009 và Giải thưởng doanh nhân xã hội 2010.


 “Là người khiếm thính, tôi hiểu sâu sắc những khó khăn mà người khiếm thính đã, đang và sẽ gặp phải và quyết định đồng hành cùng họ trong quá trình hòa nhập xã hội bởi vì tôi luôn tin rằng: “Không có người khuyết tật, chỉ có người có năng lực khác nhau”, chị Hạnh tâm sự.

Công Quang

Thứ Bảy, 4 tháng 5, 2013

Những đoạn đường dễ bị phạt ở Sài Gòn



Các đoạn đường này hầu hết đều có bảng cấm rẽ nhưng người tham gia giao thông vẫn dễ vi phạm. Nhất vẫn là các tuyến đường cấm quẹo, đặc biệt là cấm theo mốc thời gian.
Chẳng hạn, tại ngã tư Nguyễn Văn Cừ quẹo cua sang Trần Hưng Đạo bị cấm rẽ trước 22h. Các biển cấm này thường ít được người tham gia giao thông để ý, vì đôi khi vị trí đặt chúng không thực sự hợp lý.
Sau đây, chúng ta điểm qua một số nút giao thông không cho phép xe rẽ trong khoảng thời gian nhất định ở Sài Gòn:







Trích http://tiin.vn

Thứ Ba, 26 tháng 2, 2013

Vì sao tháng hai chỉ có 28 hoặc 29 ngày?

Khác với những tháng còn lại trong năm, tháng Hai chỉ có 28 hoặc 29 ngày. Lý do thực sự của điều này, chưa hẳn ai cũng biết.
Mỗi tháng Dương lịch đều có từ 30 đến 31 ngày, nhưng tháng Hai chỉ có 28 hoặc 29 ngày nếu là năm nhuận, là do giữ nguyên cách tính lịch của người La Mã trước kia.
Lịch La Mã ban đầu ban hành bởi Romulus, vị hoàng đế đầu tiên của thành Rome. Lịch do ông ta ban hành dựa vào chu kỳ của mặt trăng, tức là tương tự như âm lịch của người phương Đông, tuy nhiên chỉ có 10 tháng. 10 tháng của lịch này bắt đầu từ tháng ba và kết thúc vào cuối tháng mười hai (lưu ý rằng cách đánh số tháng 1, 2, 3,... là do cách dịch của người Việt Nam, còn trong nguyên bản của lịch La Mã cũng như cách dịch ra nhiều ngôn ngữ trên thế giới thì mỗi tháng có tên riêng).
Như vậy một năm chỉ có 10 tháng, tức là có một khoảng thời gian kéo dài hai chu kỳ Trăng không được đưa vào lịch, vì Romulus cho rằng đây là thời gian mùa đông không có ý nghĩa gì với việc làm nông nghiệp nên không cần có quy ước.

Khoảng thế kỷ thứ 8 trước công nguyên, hoàng đế Numa Pompilius là người quyết định đưa thêm hai tháng nữa vào lịch cho đủ 12 chu kỳ Trăng. Mỗi tháng có 28 ngày, làm cho lịch kéo dài đủ 12 chu kỳ Trăng, tổng cộng là 354 ngày. Tuy vậy, Pompilius cho rằng số 28 là con số không may mắn nên sau đó quyết định cho tháng một thêm một ngày thành 29 ngày, còn tháng hai không hiểu vì lý do gì vẫn giữ nguyên chỉ có 28 ngày.
Lịch đặt theo chu kỳ của mặt trăng dần bộc lộ điểm yếu, nó không phản ánh đúng chu kỳ biến đổi thời tiết các mùa, vì chu kỳ này gắn liền với chuyển động của trái đất quanh mặt trời. Vì thế, người La Mã lại quyết định cứ hai năm thì đưa vào thêm một tháng nhuận kéo dài 27 ngày sau ngày 23 tháng hai (những năm đó tháng hai chỉ có 23 ngày).
Việc thay đổi như trên làm việc tính lịch trở nên rắc rối. Đến khoảng năm 45 trước Công nguyên, Julius Caesar quyết định thay đổi hệ thống tính lịch này. Ông giữ nguyên 12 tháng nhưng thêm ngày vào các tháng để 12 tháng đó trùng với chu kỳ của mặt trời (chu kỳ vị trí của mặt trời trên bầu trời, chứ không phải chu kỳ trái đất chuyển động quanh mặt trời vì thời đó người ta không biết trái đất có quỹ đạo quanh mặt trời).
Caesar cũng đặt quy định cứ 4 năm một lần thì tháng hai lại được cộng thêm một ngày cho phù hợp với chu kỳ của mặt trời được tính ra khi đó là 365,25 ngày, điều này về cơ bản khá gần với chu kỳ thật của trái đất quanh mặt trời, hiện nay chúng ta biết là 365,2425 ngày.
Có nguồn tài liệu ghi rằng ban đầu theo cách tính lịch của Caesar, tháng hai có 29 ngày và mỗi 4 năm nó được thêm một ngày thành 30 ngày, tức là không có chênh lệch lớn với các tháng khác. Tuy vậy sau này khi các tháng đặt tên lại, ngày thứ hai chín của tháng hai được chuyển sang tháng tám do tháng này đặt theo tên của Augustus (Hoàng đế sáng lập đế chế La Mã), để cho tháng đó có độ dài tương đương với tháng bảy (July) - tên của Julius Caesar.
Dương lịch mà con người sử dụng ngày nay chính là lịch La Mã được hoàn thiện thêm. Cách chia các tháng vẫn giữ nguyên để tôn trọng lịch sử và đó là lí do tháng hai có ít ngày hơn các tháng khác. Về cơ bản đây chỉ là một qui ước, không gây ảnh hưởng gì tới việc sử dụng thời gian của loài người.
                                                                                                   Theo http://kienthuc.net.vn


Thứ Năm, 31 tháng 1, 2013

Những loại quả 'độc' chưng tết giá tiền triệu


vietnamnet.vn -Dưa hấu hình xe hơi, thỏi vàng, phật thủ nghìn tay, bưởi hồ lô... là những loại quả "độc" giá tiền triệu được săn tìm dịp tết Nguyên Đán 2013.
Dưa hấu hình chiếc ôtô 4 chỗ ngồi, có in chữ “Phúc” nổi trên nắp capô xe, được một nhà vườn ở Cần Thơ giới thiệu với giá 10 triệu đồng/cặp.
Dưa hấu xe hơi có 2 loại, màu vàng và màu xanh.
Ông Trần Thanh Liêm (quận Bình Thủy, TP Cần Thơ) cho biết, để tạo ra được dưa hấu hình dáng xe hơi cho Tết năm nay, ông phải mày mò gần 3 năm qua mới thành công.
Dưa hấu hình thỏi vàng cũng có giá rất cao vì để có được khuôn hình thỏi vàng phải đúc rất công phu, ép dưa sao cho ra được hình thỏi vàng y như thật thì rất khó khăn, tỷ lệ thành công chỉ khoảng 35%. Giá dưa thỏi vàng có giá khoảng trên 3 triệu đồng/cặp.
Nụ cười của người nông dân mùa thu hoạch "vàng".
Dưa hấu hình vuông cũng được các nhà vườn bán ra với sản lượng lớn, giá dao động từ 2 - 3 triệu đồng/cặp.
Dưa hồ lô còn nằm trong ruộng.
Mỗi quả dưa hồ lô có chữ nổi giá từ 1,5-2 triệu đồng.
Một nông dân chăm chút những quả bưởi hồ lô để tung ra dịp tết.
Bưởi hồ lô có giá khoảng 3 triệu đồng/cặp.
Cặp bưởi hồ lô với chữ nổi Tài - Lộc.
Hình dáng độc đáo và kỹ thuật gò chữ nổi trên vỏ đã khiến loại bưởi này trở nên hút hàng hơn bao giờ hết.
Người ta thờ Phật Thủ với mong muốn gia đình gặp nhiều may mắn trong năm mới, phồn thịnh về của cải, sức khỏe… Chơi Phật Thủ cũng rất công phu và có “luật” của nó. Quả càng to, ngón tay của Phật Thủ càng nhiều, dài, móng nhọn thì càng có giá trị.
Song Phật Thủ có giá trị cả về mặt ý nghĩa tâm linh, cũng như thẩm mỹ phải là quả to, tay dài, móng nhọn, số ngón phải đạt trên 20 ngón trở lên và đặc biệt ngón cuối cùng phải nằm ở chữ… “Thịnh”, theo cách đếm: “Thịnh – Suy – Vi – Thái”.
Quả phật thủ như thế này có giá khoảng 3 triệu đồng.

M. Thư (tổng hợp)
TĐK (gởi)